Bản lĩnh, trí tuệ và những mốc son lịch sử qua hơn 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam
Tốc độ:1x
(QK7 Online) - Lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX và những thập niên đầu thế kỷ XXI là bản hùng ca về sự hồi sinh và vươn mình trỗi dậy. Trong bản hùng ca ấy, sự ra đời và lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đóng vai trò là nhạc trưởng, là linh hồn. Hành trình hơn 95 năm qua không chỉ là chuỗi thời gian tuyến tính, mà là sự kết tinh của bản lĩnh kiên cường trước bão táp và trí tuệ sáng suốt trước những ngã rẽ lịch sử, đưa dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác.
Kỷ nguyên mới từ mùa Xuân năm 1930: Sự lựa chọn của lịch sử
Ngược dòng thời gian về trước năm 1930, đất nước ta chìm trong đêm trường nô lệ. Các phong trào yêu nước nổ ra sôi nổi, từ Cần Vương, Đông Du đến các cuộc khởi nghĩa của Yên Bái, nhưng tất cả đều thất bại. Nguyên nhân sâu xa là sự thiếu vắng một đường lối cứu nước đúng đắn và một tổ chức lãnh đạo tiên phong. Giữa lúc bế tắc ấy, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, bằng trí tuệ thiên tài, đã tiếp thu chủ nghĩa Mác - Lênin và vận dụng sáng tạo vào thực tiễn Việt Nam. Ngày 3/2/1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Đây không chỉ là sự kiện hợp nhất các tổ chức cộng sản, mà là bước ngoặt vĩ đại, chấm dứt sự khủng hoảng về đường lối. Ngay trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên, Đảng đã thể hiện trí tuệ vượt thời đại khi xác định con đường: “Làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản”. Sự lựa chọn này đã giải quyết trúng mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam lúc bấy giờ là mâu thuẫn giữa toàn thể dân tộc với thực dân xâm lược và phong kiến tay sai.
Bản lĩnh của Đảng non trẻ đã sớm được thử thách qua cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930-1931). Dù bị đàn áp đẫm máu, nhưng ngọn lửa cách mạng đã được thắp lên, khẳng định sức sống mãnh liệt của một Đảng mới ra đời nhưng đã bám rễ sâu trong lòng Nhân dân.
1945 - 1975: Bản lĩnh thép và trí tuệ trong nghệ thuật chiến tranh nhân dân
Giai đoạn 1945-1975 là thước đo khắc nghiệt nhất cho bản lĩnh và trí tuệ của Đảng. Chưa có một đảng cầm quyền nào trên thế giới phải đối mặt với những thử thách dồn dập và khốc liệt đến thế: vừa giành chính quyền, vừa chống thù trong giặc ngoài, vừa xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, vừa đấu tranh giải phóng miền Nam.
Cách mạng Tháng Tám năm 1945 là một kiệt tác của nghệ thuật chớp thời cơ. Đảng ta đã dự báo chính xác tình hình thế giới, khi phát xít Nhật đầu hàng Đồng minh, tạo ra “thời cơ ngàn năm có một”. Nếu không có trí tuệ sắc bén để nhận định thời thế và bản lĩnh quyết đoán để phát động Tổng khởi nghĩa, lịch sử có thể đã rẽ sang hướng khác. Thắng lợi này đã đập tan xiềng xích nô lệ gần một thế kỷ, mở ra kỷ nguyên độc lập, tự do. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, trí tuệ của Đảng thể hiện ở đường lối chiến tranh nhân dân: “Toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh”. Đỉnh cao của trí tuệ ấy là Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954) và Đại thắng mùa Xuân (1975). Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, Đảng ta đã thể hiện bản lĩnh độc lập, tự chủ phi thường. Giữa bối cảnh mâu thuẫn Xô - Trung gay gắt, Đảng vẫn khéo léo tranh thủ sự ủng hộ của cả hai cường quốc và nhân loại tiến bộ, nhưng vẫn giữ vững đường lối chiến lược của riêng mình. Nghị quyết Trung ương 15 (khóa II) và sau này là Nghị quyết Trung ương 11, 12 (khóa III) đã thể hiện tư duy quân sự sắc sảo: đánh địch bằng “hai chân, ba mũi, ba vùng chiến lược”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đúc kết chân lý: "Không có gì quý hơn độc lập, tự do". Tư tưởng ấy đã trở thành sức mạnh vật chất, giúp một dân tộc nhỏ bé đánh thắng hai đế quốc to lớn. Văn kiện Đảng sau này nhìn nhận: “Thắng lợi đó mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người”.
1986 - Đổi mới: Cuộc cách mạng về tư duy và sự dũng cảm “nhìn thẳng vào sự thật”
Sau năm 1975, đất nước thống nhất nhưng lại rơi vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng do hậu quả chiến tranh và cơ chế tập trung quan liêu bao cấp kéo dài. Lúc này, bản lĩnh của Đảng không phải là cầm súng, mà là dũng cảm thừa nhận sai lầm để sửa chữa. Đại hội VI của Đảng (1986) là một mốc son chói lọi về trí tuệ và bản lĩnh đổi mới. Với tinh thần “nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng sự thật, nói rõ sự thật”, Đảng đã khởi xướng công cuộc Đổi mới toàn diện. Đây là cuộc cách mạng trong tư duy kinh tế, chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước.
Văn kiện Đại hội VI khẳng định: “Đổi mới tư duy, trước hết là tư duy kinh tế; đổi mới tổ chức; đổi mới đội ngũ cán bộ; đổi mới phong cách lãnh đạo và công tác”. Quyết định này đòi hỏi một bản lĩnh chính trị cực lớn, bởi nó xóa bỏ những giáo điều đã ăn sâu vào nhận thức, chấp nhận cái mới chưa có tiền lệ. Thực tiễn 40 năm Đổi mới đã chứng minh trí tuệ sáng suốt của Đảng. Từ một nước thiếu đói, Việt Nam đã vươn lên thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới, quy mô nền kinh tế không ngừng mở rộng, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đất nước đã thoát khỏi thế bao vây cấm vận, hội nhập sâu rộng quốc tế.
Giai đoạn hiện nay: Bản lĩnh làm trong sạch Đảng và khát vọng phồn vinh
Bước vào thập niên thứ ba của thế kỷ XXI, trước thềm kỷ niệm 96 năm thành lập, Đảng Cộng sản Việt Nam đang đối diện với những cơ hội và thách thức mới. Tình hình thế giới biến động khôn lường, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư tác động mạnh mẽ, cùng với đó là những nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong.
Bản lĩnh của Đảng trong giai đoạn này thể hiện ở quyết tâm chỉnh đốn Đảng, phòng chống tham nhũng, tiêu cực. Chưa bao giờ công cuộc “đốt lò” lại quyết liệt và bài bản như những năm gần đây. Đảng dám nhìn thẳng vào những ung nhọt trong cơ thể mình, xử lý kỷ luật hàng loạt cán bộ cấp cao, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị, với phương châm “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”. Đây là sự đau xót nhưng cần thiết để giữ gìn sự trong sạch, củng cố niềm tin của nhân dân.
Tại Đại hội XIII, Đảng đã thẳng thắn chỉ rõ: “Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng phải được triển khai quyết liệt, toàn diện, đồng bộ, thường xuyên, hiệu quả cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ”. Điều này cho thấy Đảng không né tránh khuyết điểm mà lấy việc sửa chữa khuyết điểm làm động lực phát triển.
Trí tuệ của Đảng thể hiện ở tầm nhìn chiến lược và tư duy phát triển mới. Văn kiện Đại hội XIII không chỉ đặt mục tiêu cho một nhiệm kỳ mà đã hoạch định lộ trình dài hạn: Đến năm 2025 là nước đang phát triển, có công nghiệp theo hướng hiện đại, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; đến năm 2030 là nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; và đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tư duy đối ngoại cũng là một điểm sáng rực rỡ. Đường lối “Ngoại giao cây tre” - gốc vững, thân chắc, cành uyển chuyển là sự kết tinh trí tuệ ngoại giao Hồ Chí Minh và truyền thống dân tộc trong bối cảnh mới. Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với hầu hết các cường quốc trên thế giới, nâng cao vị thế quốc tế chưa từng có.
Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã nhận định một cách đầy tự hào và xác đáng: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Câu nói này không phải là lời tự mãn, mà là sự đúc kết từ thực tiễn lịch sử hơn 9 thập kỷ phấn đấu gian khổ của toàn Đảng, toàn dân.
Hướng tới mốc son 100 năm: Niềm tin và trọng trách. Hành trình hơn 95 năm của Đảng Cộng sản Việt Nam là minh chứng sống động cho quy luật: Một đảng cách mạng chân chính, có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ khoa học và luôn gắn bó máu thịt với nhân dân thì không thế lực nào có thể ngăn cản được bước tiến.
Hướng tới kỷ niệm 96 năm thành lập Đảng (3/2/1930 - 3/2/2026) và xa hơn là mốc son 100 năm (2030), trọng trách đặt lên vai Đảng càng nặng nề hơn. Đó là trọng trách đưa đất nước bứt phá khỏi bẫy thu nhập trung bình, thực hiện khát vọng hùng cường. Để làm được điều đó, Đảng phải tiếp tục kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Như Văn kiện Đại hội XIII đã nhấn mạnh: “Tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta là phải kiên định và vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đồng thời, cần tiếp tục khơi dậy khát vọng phát triển đất nước, phát huy giá trị văn hóa, sức mạnh con người Việt Nam. Trí tuệ của Đảng trong kỷ nguyên số phải là trí tuệ của sự đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn.
Nhìn lại chặng đường hơn 95 năm qua, chúng ta có quyền tự hào về Đảng quang vinh. Những mốc son lịch sử năm 1930, 1945, 1954, 1975, 1986 và những thành tựu của ngày hôm nay là những nấc thang đưa Việt Nam vươn tới đài vinh quang. Bản lĩnh và trí tuệ được tôi luyện qua lửa đỏ và nước lạnh của lịch sử chính là hành trang quý giá nhất để Đảng chèo lái con thuyền dân tộc vượt qua mọi sóng cả, cập bến bờ hạnh phúc. Như lời bài hát "Đảng đã cho ta một mùa xuân", Đảng không chỉ mang lại độc lập, tự do mà còn mang lại niềm tin và hy vọng. Với bản lĩnh đã được thử thách và trí tuệ không ngừng vươn cao, Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn sẽ lãnh đạo nhân dân ta viết tiếp những trang sử vàng trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Đại tá, ThS Trần Ngọc Thùy
Khoa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh/ Học viện Lục quân