Sức mạnh cộng hưởng ở miền Đông Nam Bộ sau chiến thắng Điện Biên Phủ
Tốc độ:1x
(QK7 Online) - Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954 đến khi lệnh ngừng bắn thực sự có hiệu lực trên chiến trường miền Đông Nam Bộ bắt đầu từ ngày 11/8/1954, hào khí thắng lợi từ miền Bắc cùng sức mạnh tại chỗ của quân và dân miền Đông tạo nên một cục diện tấn công toàn diện, đẩy thực dân Pháp vào thế tan rã không thể vực dậy.
Chiều ngày 7/5/1954, lá cờ "Quyết chiến Quyết thắng" của Quân đội nhân dân Việt Nam tung bay trên nóc hầm chỉ huy tướng De Castries, kết thúc thắng lợi Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.
Giữ vững vùng căn cứ
Trong tiến trình chung của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954 ghi dấu những bước ngoặt quan trọng về mặt chiến lược. Tại miền Đông Nam Bộ, đây là giai đoạn sự giằng co giữa ta và địch không chỉ diễn ra ở thực địa mà còn là cuộc đấu trí quyết liệt giành thế chủ động.
Theo nhận định của Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài, nguyên Trưởng phòng Khoa học Quân sự Quân khu 7, từ cuối mùa mưa năm 1953, thực dân Pháp đã lún sâu vào thế bị động và lệ thuộc nặng nề vào viện trợ Mỹ. Đến giữa tháng 2/1954, cục diện tại miền Đông Nam Bộ biến chuyển mạnh mẽ khi quân viễn chinh Pháp buộc phải rút các đơn vị cơ động tinh nhuệ từ Sài Gòn chi viện cho chiến trường Lào và Bắc Bộ, đặc biệt là mặt trận Điện Biên Phủ. Việc thiếu hụt binh lực, thậm chí chỉ còn 3 tiểu đoàn thiếu khiến thực dân Pháp đối mặt với nguy cơ mất Sài Gòn. Để cứu vãn tình hình, chúng ồ ạt tuyển quân, phát triển quân chính quy và thân binh hóa lực lượng các giáo phái phản động nhằm thành lập đơn vị ngụy quân cấp tốc. Số binh lính của Quốc gia Việt Nam trên chiến trường Đông Nam Bộ, Nam Trung Bộ và Nam Tây Nguyên lúc này đạt đến mức kỷ lục. Tuy nhiên, các đội quân nói trên đều thiếu trang bị, huấn luyện, kinh nghiệm và tinh thần chiến đấu phần lớn đã hoang mang, rệu rã ngay từ khi chưa kịp ra trận.
Nắm bắt thời cơ ấy, dưới sự chỉ đạo sát sao của Phân liên khu miền Đông, mệnh lệnh được đưa ra là phải giữ vững và đẩy mạnh chiến tranh du kích, đồng thời tích cực củng cố, mở rộng hệ thống căn cứ địa, tăng cường công tác địch ngụy vận. Theo đó, ở các vùng tạm bị chiếm, Nhân dân ta đã kiên cường chống lại chính sách bắt lính của thực dân Pháp và triển khai hiệu quả công tác vận động binh lính địch đào ngũ. Tại vùng du kích và tranh chấp, các cơ sở cách mạng được củng cố vững chắc, kết hợp hiệu quả cùng tuyên truyền, diệt ác phá tề, bao vây, bức rút các đồn bốt. Ngoài ra, sự phối hợp nhịp nhàng giữa bộ đội tập trung và du kích địa phương trong việc phục kích giao thông còn khiến quân địch rơi vào hoàn cảnh khốn đốn và bị tiêu hao sinh lực. Nhờ vậy, vùng giải phóng và hệ thống căn cứ địa của ta ngày càng được mở rộng, tạo thành một mạng lưới liên hoàn trên toàn bộ chiến trường.
Cán bộ, chiến sĩ đọc báo để biết thông tin từ chiến trường trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Ảnh tư liệu.
Lúc này, tin thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ lan tỏa đã thổi bùng ngọn lửa đấu tranh mạnh mẽ ngay tại trung tâm Sài Gòn - Chợ Lớn. Dù Thực dân Pháp và Chính quyền Sài Gòn kiểm duyệt hệ thống báo, đài chặt chẽ, tin thất trận của Pháp vẫn tràn ngập trên trang nhất các mặt báo tiếng Việt và tiếng Pháp, tạo ra làn sóng phản ứng dây chuyền mạnh mẽ. Ở góc độ chính trị, hơn 350 nhân sĩ, trí thức Sài Gòn dũng cảm ký tên vào bản yêu sách đòi Pháp ngừng chiến tranh. Các công nhân, tiểu thương tiến hành bãi công, bãi thị. Trên mặt trận quân sự, đỉnh cao là trận đánh huyền thoại của Đại đội đặc công 205 đêm ngày 31/5, các chiến sĩ đột nhập kho bom Phú Thọ Hòa, phá hủy 10.000 tấn bom đạn, 10 triệu lít xăng dầu. Tiếng nổ rung chuyển thành phố suốt 15 giờ đồng hồ đã giáng một đòn quyết định vào ý chí đề kháng cuối cùng của ngụy quyền.
Những trận đánh quyết liệt
Sức cộng hưởng không dừng lại ở đô thị mà còn lan rộng khắp các tỉnh miền Đông. Đúng ngày 01/6, Tiểu đoàn 303 phối hợp cùng bộ đội huyện Châu Thành thực hiện trận đánh then chốt tiêu diệt đồn Cầu Định, một cứ điểm quan trọng trong hệ thống tháp canh của địch. Lực lượng ta đã diệt và bắt sống toàn bộ Đại đội Commando (biệt kích) gồm 147 tên, thu giữ 135 khẩu súng cùng 9 tấn đạn dược, làm tê liệt hoàn toàn khả năng kiểm soát của địch trên vùng đất rộng lớn dọc Quốc lộ 13 phía Bắc thị xã Thủ Dầu Một.
Thừa thắng xông lên, các đại đội bộ đội địa phương tiếp tục tấn công và tiêu diệt liên tiếp nhiều đồn bốt khác như Bến Tranh, Cây Trắc, góp phần mở rộng vùng giải phóng. Tại khu vực tỉnh Bà Rịa và Chợ Lớn, trong tháng 6 và tháng 7/1954, các đội đặc công Rừng Sác liên tục cắt đứt huyết mạch đường thủy Lòng Tàu, bắn chìm 3 tàu chiến chở lính Pháp. Riêng ở Mỹ Tân Gò (tên gọi tắt của 3 tỉnh Mỹ Tho, Tân An, Gò Công lúc bấy giờ), Nhân dân Gò Công, Chợ Gạo đồng loạt nổi dậy, bắt sống hàng trăm tù binh, giải phóng hàng loạt xã ấp.
Không chỉ chiến đấu cho độc lập nước nhà, tinh thần quốc tế cao cả của Quân dân miền Đông còn được khẳng định qua hành động của Tiểu đoàn 302. Giữa lúc cả nước đang reo vui chiến thắng, đơn vị này đã lập tức cơ động sang chiến trường Campuchia, phối hợp cùng quân và dân địa phương các tỉnh Prây Veng, Soài Riêng, Công Pông Chàm giải phóng nhiều vùng đất rộng lớn ở phía Đông Campuchia. Sự hỗ trợ ấy càng thêm thắt chặt tình đoàn kết chiến đấu của quân đội và Nhân dân 2 nước trong công cuộc chống lại kẻ thù chung.
Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài cho rằng, xét về mặt cục bộ, ngày kết thúc Chiến dịch Điện Biên Phủ được xem là cột mốc đánh dấu giai đoạn cuối cùng của cuộc kháng chiến. Song trên thực tế, cuộc đấu tranh ở miền Đông Nam Bộ vẫn tiếp diễn cực kỳ máu lửa cho đến tận giờ phút ngừng bắn cuối cùng. Kẻ thù dù đã suy yếu nhưng vẫn ngoan cố bám giữ kết quả bình định và các vị trí chiến lược về chính trị, quân sự, kinh tế, văn hóa hòng thực hiện âm mưu chia cắt, thống trị lâu dài đất nước ta. Tuy nhiên, chính yếu tố thừa thắng, chủ động và cộng hưởng từ Điện Biên Phủ đã giúp quân và dân miền Đông tạo ra một thế trận khẩn trương, quyết liệt.
Cũng theo Đại tá, PGS.TS Hồ Sơn Đài, có thể chia thời gian sau chiến thắng Điện Biên Phủ đến ngày Nam Bộ ngừng bắn hoàn toàn thành 2 giai đoạn. Từ ngày 17/5 - 21/7/1954, quân và dân Đông Nam Bộ phát huy chiến quả từ thắng lợi Điện Biên Phủ, đẩy mạnh các hoạt động kháng chiến theo chỉ đạo của Trung ương Cục, chủ yếu trên lĩnh vực phong trào du kích chiến tranh, mở rộng căn cứ địa và công tác địch ngụy vận. Từ ngày 22/7 đến khi ngừng bắn hoàn toàn, quân và dân Đông Nam Bộ áp dụng công tác tuyên truyền, phát huy sức mạnh của cả hệ thống chính trị để áp đảo quân thù, tạo thế và lực cho việc thực hiện Hiệp định Genève và chuẩn bị lực lượng cho cuộc đấu tranh mới.