Đại tá, Anh hùng LLVTND Nguyễn Văn Tàu: Tình báo phải dựa vào dân
Tốc độ:1x
(QK7 Online) - Theo Ðại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân Nguyễn Văn Tàu, Cụm trưởng tình báo H63 hay còn gọi là Trần Văn Quang hoặc Tư Cang, bí mật lớn nhất của người làm tình báo không nằm ở kỹ thuật mật mã mà nằm ở lòng dân.
“Thế trận lòng dân” trong kháng chiến
Tháng 4/2026, khi cả nước đang hướng về Lễ kỷ niệm 51 năm Ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, tôi may mắn có cơ hội được trò chuyện cùng ông Tư Cang. Dù tuổi đã cao, sức khỏe có phần giảm sút sau đợt kiểm tra định kỳ hồi tháng 3 nhưng hôm nay khi nhắc lại những năm tháng hoạt động tình báo của mình, giọng ông vẫn khỏe và rành mạch.
Đại tá, Anh hùng LLVT Nhân dân Nguyễn Văn Tàu (Tư Cang) chia sẻ về nghề tình báo trong một sự kiện giao lưu với nhân vật lịch sử (Ảnh: Thủy Tiên).
Ông kể về thời điểm năm 1965, để cứu vãn chế độ Sài Gòn bị lung lay sau những trận đánh vang dội của Quân giải phóng ở Bình Giã (tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu cũ), Ba Gia (tỉnh Quảng Ngãi), Đồng Xoài (tỉnh Bình Phước cũ), đế quốc Mỹ đã đổ quân vào miền Nam nước ta. Địa điểm đầu tiên mà Sư đoàn thủy quân lục chiến Mỹ đổ bộ là Đà Nẵng. Sau đó, những đơn vị sừng sỏ khác lần lượt được tung vào chiến trường miền Nam. Trong đó, phía Bắc Sài Gòn có Sư đoàn 1 bộ binh được mệnh danh “Anh cả đỏ” đóng quân tại Lai Khê (Bến Cát, tỉnh Bình Dương cũ) và Sư đoàn 25 bộ binh được mệnh danh “Tia chớp nhiệt đới” đóng quân tại Đồng Dù (Củ Chi); phía Nam Sài Gòn có Lữ đoàn khinh binh 199. Một năm sau, ở vùng xung quanh Sài Gòn, lực lượng cơ động của quân đội Mỹ tham gia những trận đánh lớn có Lữ đoàn dù 173, Trung đoàn thiết giáp số 11.
Khi đó, ông Tư Cang đang là Thiếu tá, Cụm trưởng Cụm tình báo chiến lược H63 đã nhận chỉ thị từ đồng chí Trần Văn Danh, Phó Tham mưu trưởng chiến trường B2 với nhiệm vụ vào Sài Gòn sống thử 10 ngày để đánh giá xem các cụm trưởng bên mình có sống trong thành được không?
Ngay sau đó, ông đã hóa thân thành một người dân thành phố, từ quần áo, giày, tất đến giấy thông hành (giả) do Ban kỹ thuật cung cấp. Theo con đường Bến Cát, qua Bình Dương, đến Lái Thiêu, từ đó ông thâm nhập vào nội đô.
Đúng một tuần sống tại cơ sở quần chúng ở số nhà 136B đường Gia Long (nay là Lý Tự Trọng) và trực tiếp cùng Điệp viên Phạm Xuân Ẩn quan sát tình hình; khi trở về căn cứ, ông đã báo cáo với đồng chí Trần Văn Danh rằng: Ở trên thì rừng cây, công sự che chở chúng ta, còn vào thành phố thì quần chúng Nhân dân nuôi nấng, bảo vệ chúng ta. Ông cũng không quên dặn dò các cụm trưởng phải học theo lời Bác Hồ: “Tình báo cũng như mọi việc khác phải dựa vào dân. Vì vậy, tình báo phải cố gắng làm thế nào cho dân giúp sức thì sẽ thành công to”.
Được dân thương mến, chở che
Trong thời gian hoạt động tình báo, ông Tư Cang chia sẻ, bản thân không đong đếm hết được bao nhiêu nghĩa tình mà người dân đã dành cho mình. Nhưng có lẽ những lần đến trú ngụ tại gia đình anh Hoàng Nam Sơn ở địa chỉ số 113 Cô Bắc đã để lại trong ký ức của ông nhiều xúc động.
Ông nhớ chính xác vào đêm 4/5/1968 mở màn đợt 2 Xuân Mậu Thân, quân ta tấn công khắp Sài Gòn. Một chiến sĩ ta hy sinh trên đường Đề Thám. Bọn giặc lục soát túi áo người thanh niên, thấy mảnh giấy có ghi số nhà 113 Cô Bắc. Có thể anh là người trước đây quen biết với gia đình anh Sơn. Cảnh sát quốc gia Việt Nam cộng hòa dựa vào đó đã đến bắt chủ hộ là chị Nguyễn Thị Tươi (vợ anh Sơn), dẫn giải về Quận Nhì tra tấn về tội chứa chấp Việt Cộng. Chúng cũng cử mật thám theo dõi xung quanh nhà, nếu thấy người lạ đi vào, chúng sẽ bắt giữ ngay.
Ngày 8/5/1968, ông Tư Cang cần gặp anh Sơn để nắm thêm tin tức làm báo cáo về cấp trên. Ông xuống xe taxi ở góc đường Đề Thám để đi bộ theo vỉa hè tới nhà anh Sơn. Thoạt đầu ông chưa biết bọn Cảnh sát quốc gia Việt Nam cộng hòa, mật thám đã giăng bẫy. Khi trông thấy bà cụ Lê Thị Tám (má ruột chị Tươi, tức má vợ anh Sơn) đang ngồi vá áo trước nhà. Bà cụ ngẩng lên nhìn ông nghiêm nghị, lạ lẫm, khác hẳn với vẻ mừng rỡ như mọi khi. Bà không nói gì nhưng ông lúc đó đoán được có điều chẳng lành nên không rẽ vào nhà, không chào hỏi gì bà cụ mà đi luôn như người lạ trên đường.
Mấy ngày sau, khi gặp anh Sơn ở một điểm hẹn, ông mới biết chuyện vợ anh Sơn bị bắt, bọn mật thám rình rập, đến chuyện bà cụ lo lắng cho ông nên mỗi ngày đều đem rổ quần áo ra trước cửa ngồi may vá, trông về góc đường Đề Thám là nơi ông thường xuất hiện. Chính ánh mắt lạ thường của bà cụ hôm ấy đã cứu ông.
Với ông Tư Cang, đồng bào các xã vùng ven Sài Gòn cũng có tinh thần cách mạng rất cao. Chuyện là, năm 1967, đội vũ trang của Cụm tình báo H63 đóng quân tại ấp Phú An, xã Phú Hòa Đông, huyện Củ Chi. Đánh hơi thấy có phân đội nhỏ Việt Cộng, sống trong địa đạo, hầm bí mật; lính Mỹ đã huy động một đội xe ủi đất đến triệt phá địa hình, tìm nắp hầm bí mật. Lúc ấy, ông cùng đồng đội đang ở trong hầm, bỗng có một luồng ánh sáng len xuống. Như vậy, cái nắp bí mật bằng gỗ bị xe ủi cán qua làm vênh lên. Bộ binh Mỹ chưa phát hiện vì trời tối.
Ông suy luận, ngày mai chúng cũng rà trở lại. Vì đang nằm trong vòng vây của địch, hơn nữa ban đêm không sửa lại được nắp hầm, ông liền tìm cách gặp một cô nông dân của vùng, nhờ rằng: “Mấy bữa nay, em thấy tụi anh ra sau nhà, đến lõm rừng chồi thì biến mất. Đó là tụi anh chui xuống hầm bí mật. Chiều nay, xe Mỹ cán qua làm vênh nắp hầm. Tụi anh không sửa kịp. Vậy em ra đây anh chỉ cái nắp bí mật, đến khuya tụi anh chui xuống, ở trên em đặt nắp hầm lại cho ngay ngắn rồi ngụy trang kỹ lại giùm”. Cô nông dân chất phác, hiền lành làm đúng theo lời dặn của ông và lần ấy, ông và các anh em đội vũ trang đã thoát hiểm.
Hiện tại dù chiến tranh đã lùi xa, ông Tư Cang vẫn nhắc nhớ lời của danh tướng Trần Hưng Đạo: "Khoan thư sức dân để làm kế sâu rễ bền gốc, đó là thượng sách giữ nước muôn đời". Ông cũng khẳng định, ở thời chiến hay thời bình, sức mạnh của quần chúng Nhân dân luôn là vô địch.