Báo chí cách mạng ở chiến trường Nam Bộ trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Tốc độ:1x
(QK7 Online) - Kể từ tờ Thanh niên do Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên, đến nay, nền báo chí cách mạng Việt Nam đã đi hết một chặng đường hơn 100 năm. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí cách mạng Việt Nam luôn đồng hành cùng dân tộc. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, cùng với hệ thống báo chí cách mạng và tiến bộ trên phạm vi cả nước, những tờ báo xuất bản tại mặt trận ở chiến trường Nam Bộ đã thực sự trở thành một mũi tiến công trong thế trận “hai chân”, “ba mũi”, một thứ vũ khí tin cậy và sắc bén của Trung ương Cục, Nhân dân và LLVT Nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam.
Những tờ báo xuất bản tại mặt trận ở chiến trường Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vốn kế thừa, tiếp nối truyền thống hoạt động báo chí cách mạng từ khi Đảng Cộng sản ra đời. Từ năm 1932, Xứ ủy lâm thời Nam Kỳ đã chủ trương ra Báo Cờ đỏ bí mật, làm cơ quan ngôn luận, tuyên truyền của Xứ ủy. Tờ Cờ đỏ lần lượt đổi tên thành Cờ Lãnh đạo, rồi Giải phóng.
Tháng 10/1943, sau khi tái lập, Xứ ủy Nam Kỳ ra Báo Tiền phong và Giải phóng, chuẩn bị cho quá trình Tổng khởi nghĩa. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, tại bưng biền, các tổ chức Đảng ở Nam Bộ xuất bản nhiều tờ báo như Thông tin kháng chiến, Chống xâm lăng, Vệ quốc, Tiền đạo, Kèn gọi lính... Bên cạnh những tờ báo “lớn”, còn có những tờ báo “nhỏ”, in bột xu xoa, khổ nhỏ và không định kỳ của các chi đội Vệ quốc đoàn, công an, các tổ chức đoàn thể kháng chiến.
Từ năm 1947, còn có thêm Đài phát thanh tiếng nói Nam Bộ kháng chiến phát thanh vào lúc 7 giờ sáng và 19 giờ mỗi ngày. Nhân dân, cán bộ, nhân viên và LLVT Nam Bộ dần quen với tên tuổi các nhà báo, nhà văn Trần Bạch Đằng, Dương Bạch Mai, Lưu Quý Kỳ, Nguyễn Hải Trừng, Nguyễn Văn Nguyễn, Phạm Ngọc Thuần...
Mặc dù tham gia Hội nghị Hiệp định Genève, nhưng Mỹ không chịu ký và tìm cách phá hoại Hiệp định, trực tiếp nhảy vào miền Nam Việt Nam, thiết lập thể chế chính trị thân Mỹ, áp đặt chính sách thực dân kiểu mới, xây dựng bộ máy bạo lực phản cách mạng và sử dụng bộ máy ấy để đàn áp khốc liệt những người yêu nước. Trong bối cảnh nêu trên, sau cao trào Đồng khởi, ngày 12/10/1960, tại khu rừng Chàng Riệc (Tây Ninh), cơ quan Thông tấn xã Giải phóng ra đời. Hằng ngày, lúc 18 giờ, trên làn sóng điện, Thông tấn xã Giải phóng phát đi bản tin “Tiếng nói chính thức của những người yêu nước miền Nam Việt Nam”. Ngày 22/12/1960, ngay sau khi thành lập Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Đài Phát thanh Giải phóng với danh xưng “Đây là Đài Phát thanh Giải phóng, tiếng nói của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam” chính thức thành lập.
Phóng viên Báo Quân giải phóng tác nghiệp trên chiến trường Campuchia. Ảnh Tư liệu
Từ năm 1961, cuộc đấu tranh của Nhân dân miền Nam chuyển từ khởi nghĩa từng phần sang chiến tranh cách mạng. Thực hiện nghị quyết Hội nghị lần thứ I Trung ương Cục miền Nam, ngày 23/11/1961, tại Chiến khu Đ, Ban Tuyên huấn - cơ quan tham mưu chiến lược về công tác tuyên huấn của Trung ương Cục ra đời. Để kịp thời tuyên truyền đường lối của Đảng Nhân dân cách mạng, phản ánh công cuộc đấu tranh giải phóng, động viên các tầng lớp Nhân dân miền Nam tham gia kháng chiến, Ban Tuyên huấn Trung ương Cục chỉ đạo thành lập Tiểu ban Thông tấn - Báo chí. Từ đây, các tờ báo ở mặt trận như Quân giải phóng (thành lập ngày 1/11/1963, trực thuộc Quân ủy, Bộ Tư lệnh các LLVT Nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam), Giải phóng (thành lập ngày 20/12/1964, trực thuộc Trung ương Cục miền Nam) lần lượt ra đời. Bên cạnh các tờ báo nói trên, các Quân khu miền Đông, miền Trung, miền Tây Nam Bộ, Sài Gòn - Gia Định cũng xuất bản nhiều tờ báo phục vụ nhiệm vụ tuyên truyền, cổ vũ phong trào cách mạng.
Các phương tiện truyền thông, đài phát thanh và những tờ báo giấy nói trên, thông qua các bài xã luận, bình luận, tin tức thời sự, ghi chép, tường thuật, hình ảnh, âm nhạc… đã phản ánh cuộc chiến tranh chống Mỹ trên chiến trường miền Nam Việt Nam. Hoạt động của Báo Quân giải phóng đã thực sự trở thành một bộ phận quan trọng hợp thành mũi đấu tranh chính trị trong phương thức đấu tranh hai chân, ba mũi, ba vùng; một thứ vũ khí tin cậy và sắc bén của Trung ương Cục miền Nam, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Chính phủ Cách mạng lâm thời cộng hòa miền Nam Việt Nam, Quân ủy - Bộ Tư lệnh, các LLVT Nhân dân giải phóng miền Nam Việt Nam trên lĩnh vực chính trị, tư tưởng và văn hóa!
Không chỉ phản ánh những nội dung cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, những tờ báo xuất bản ở chiến trường Nam Bộ còn góp phần xây dựng một đội ngũ báo chí cách mạng, một “binh chủng” đặc biệt trên chiến trường. Họ là những người viết báo chuyên nghiệp từ các cơ quan truyền thông ở miền Bắc xung phong vào miền Nam tác nghiệp báo chí; những người có khả năng viết báo, viết văn, có thực tiễn chiến đấu và công tác từ các tổ chức kháng chiến và LLVT cách mạng được lấy về cơ quan báo chí; những trí thức, học sinh, sinh viên được đào tạo nghiệp vụ từ vùng địch tạm chiếm tình nguyện vào bưng biền viết báo, vẽ minh họa, chụp ảnh, quay phim. Họ luôn có mặt ở những điểm nóng nhất của cuộc chiến và không ít trường hợp phải cầm súng chiến đấu như những người lính.
Ở Tòa soạn, cán bộ, nhân viên vừa làm nhiệm vụ đặt bài, nhận bài, biên tập, làm maquette, vẽ minh họa, sửa lỗi morasse, đưa in và chuyển báo ra trạm giao liên để kịp phát hành đến tay người đọc; vừa phải liên tục di chuyển và chiến đấu bảo vệ căn cứ. Có những thời điểm nhà in hoặc đài phát thanh bị Mỹ thả bom làm hư hỏng, bài vở biên tập xong phải tìm cách gửi ra Hà Nội để chuyển đến người đọc qua làn sóng Đài Tiếng nói Việt Nam và các tờ báo khác như Nhân dân, Quân đội nhân dân...
Ở mặt trận, cán bộ, phóng viên báo cùng bộ đội hành quân, tải gạo, đào hầm, xây dựng công sự và trực tiếp cầm súng chiến đấu. Năm 1967, trong đợt chiến đấu chống cuộc hành quân mang tên Cedar Falls (Bóc vỏ trái đất) của Mỹ vào vùng “Tam giác sắt”, khi Đại đội trưởng đơn vị bộ binh hy sinh, nhà báo Ngọc Châu xông lên thay thế, chỉ huy bộ đội đánh địch, bắt được tù binh và thu nhiều vũ khí; nhà báo Phan Tư cùng LLVT và Nhân dân địa phương chống càn và trụ bám bên bờ sông Sài Gòn trong suốt 20 ngày.
Trong đợt chiến đấu chống cuộc hành quân Junction City vào căn cứ địa Bắc Tây Ninh, cán bộ, phóng viên Báo Quân giải phóng, Báo Giải phóng đã chiến đấu bẻ gãy hàng chục mũi tiến công của quân địch, dùng mìn phá hủy 20 xe tăng, bắn rơi 4 máy bay, diệt 120 tên Mỹ. Nhà báo Phạm Phú Bằng nói: “Ngoài mặt trận, người chiến sĩ hy sinh là hoàn thành nhiệm vụ, nhưng nhà báo hy sinh khi chưa viết xong bài thì nhiệm vụ chưa hoàn thành”. Đã có hàng chục nhà báo ngã xuống trong tư thế tay đang cầm máy ảnh, cây viết và sổ ghi chép. Tính đến ngày 30/4/1975, hàng trăm cán bộ, phóng viên, biên tập viên được tặng thưởng Huân chương Chiến công và danh hiệu Dũng sĩ diệt Mỹ. Riêng Báo Quân giải phóng được tặng danh hiệu Anh hùng LLVT Nhân dân.
Sau ngày miền Nam giải phóng, các cơ quan truyền thông Giải phóng giải thể. Trừ một số ít chuyển ngành, đi học, đại đa số còn lại tiếp tục công tác về các cơ quan báo chí trung ương và địa phương, báo chí trong và ngoài Quân đội. Họ, những cán bộ, phóng viên, biên tập viên, dù giờ đây tuổi đã trên dưới tám mươi, ký ức vẫn vẹn nguyên về một thời làm báo và đánh giặc!